Du lịch Việt Nam đang đứng trước một thời điểm có ý nghĩa đặc biệt. Sau gần một thập niên triển khai Nghị quyết 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, quy mô thị trường đã mở rộng đáng kể, lượng khách quốc tế liên tục lập những dấu mốc mới và đóng góp của du lịch đối với nền kinh tế ngày càng rõ nét.
Năm 2025, Việt Nam đón gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế, tăng 20,4% so với năm 2024, đồng thời phục vụ khoảng 137 triệu lượt khách nội địa. Tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 1 triệu tỷ đồng. Đây là những con số cho thấy du lịch đã trở thành một lĩnh vực có sức lan tỏa rộng tới vận tải, lưu trú, ẩm thực, bán lẻ, văn hóa, giải trí và nhiều ngành dịch vụ khác.
Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong năm 2026. Theo Cục Thống kê, trong 8 tháng đầu năm, Việt Nam đón 15,9 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước và là mức cao nhất trong 8 tháng của nhiều năm qua.
Trong bối cảnh đó, ngày 22/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới, đặt ra một tầm nhìn mới cho ngành du lịch trong mô hình tăng trưởng của đất nước.
Từ những con số tăng trưởng đến yêu cầu tạo ra giá trị cao hơn
Những kết quả đạt được trong thời gian qua là nền tảng quan trọng, nhưng quy mô khách lớn không đồng nghĩa với việc mọi vấn đề của ngành du lịch đã được giải quyết.
Nghị quyết 26-NQ/TW nhìn nhận khá rõ những hạn chế còn tồn tại: phát triển du lịch chưa thực sự bền vững; sản phẩm tại một số điểm đến còn thiếu chiều sâu và sức sáng tạo; nguồn lực đầu tư chưa tương xứng; năng lực quản trị điểm đến, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh còn hạn chế.
Đây chính là điểm thay đổi quan trọng trong tư duy phát triển. Nếu giai đoạn trước đặt nặng yêu cầu phục hồi và mở rộng thị trường thì giai đoạn mới đòi hỏi ngành du lịch phải quan tâm nhiều hơn đến chất lượng, giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh và mức chi tiêu của du khách.
Tại Hội nghị toàn quốc ngày 3/9/2026, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh yêu cầu chuyển phương thức phát triển từ số lượng sang chất lượng, nâng cao giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Đây không đơn thuần là thay đổi về cách diễn đạt mà là sự chuyển hướng trong cách thiết kế sản phẩm, quản trị điểm đến, tổ chức thị trường và phân bổ nguồn lực.
Khi du lịch không còn được đo bằng lượng khách đơn thuần. Một điểm đáng chú ý trong định hướng mới là yêu cầu chuyển từ mô hình phát triển dựa nhiều vào số lượng sang mô hình chú trọng chiều sâu, hiệu quả, tính bền vững và giá trị gia tăng cao.
Điều này đặt ra một câu hỏi lớn cho các địa phương và doanh nghiệp: làm thế nào để một du khách ở lại lâu hơn, chi tiêu nhiều hơn, trải nghiệm nhiều sản phẩm hơn và có lý do để quay trở lại?
Câu trả lời không chỉ nằm ở việc xây thêm cơ sở lưu trú hay mở thêm điểm tham quan. Nó liên quan đến toàn bộ chuỗi giá trị du lịch, từ giao thông, lưu trú, ẩm thực, văn hóa, giải trí, mua sắm cho tới công nghệ, dữ liệu và chất lượng nguồn nhân lực.
Văn hóa trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi
Một trong những điểm nhấn của Nghị quyết 26-NQ/TW là xác định văn hóa làm nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh.
Đây là hướng tiếp cận có ý nghĩa đặc biệt đối với một quốc gia sở hữu hệ thống di sản văn hóa phong phú, cảnh quan tự nhiên đa dạng và sự khác biệt lớn giữa các vùng miền.
Trong cách tiếp cận này, văn hóa không chỉ được xem như một tài nguyên để khai thác phục vụ khách tham quan. Văn hóa phải trở thành yếu tố tạo nên sự khác biệt của sản phẩm, câu chuyện của điểm đến và trải nghiệm mà du khách khó có thể
Bản sắc địa phương phải trở thành giá trị kinh tế. Một lễ hội, làng nghề, món ăn truyền thống, kiến trúc, nghệ thuật dân gian hay câu chuyện lịch sử chỉ thực sự tạo ra giá trị du lịch khi được tổ chức thành sản phẩm có chất lượng, có khả năng tiếp cận thị trường và tạo lợi ích cho cộng đồng.
Vì vậy, yêu cầu bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cần được đặt song song với phát triển sản phẩm. Nếu thương mại hóa quá mức, bản sắc có thể bị biến dạng; nhưng nếu chỉ bảo tồn mà không tạo được cơ chế để cộng đồng tham gia và hưởng lợi, những giá trị ấy cũng khó có thể trở thành động lực phát triển lâu dài.

Nghị quyết xác định người dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng, trong khi doanh nghiệp được xác định là lực lượng tiên phong. Đây là cách phân vai quan trọng trong việc hình thành hệ sinh thái du lịch mới.
Du lịch xanh, thông minh và quản trị bằng dữ liệu
Cùng với văn hóa, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là những động lực quan trọng của mô hình phát triển mới.
Nghị quyết 26-NQ/TW đặt yêu cầu tái cơ cấu ngành du lịch theo hướng chất lượng, thông minh, xanh và sáng tạo, đồng thời đổi mới năng lực quản trị theo hướng hiện đại, quản trị dựa trên dữ liệu và gắn với quy hoạch không gian phát triển.
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hành vi du khách đang thay đổi nhanh. Trước khi lên đường, khách có thể tìm kiếm thông tin, so sánh giá, đặt phòng, mua vé, lựa chọn nhà hàng và chia sẻ trải nghiệm trên nền tảng số. Sau chuyến đi, chính những đánh giá và dữ liệu phát sinh từ hành trình lại tiếp tục ảnh hưởng tới quyết định của những du khách tiếp theo.
Dữ liệu trở thành một phần của năng lực cạnh tranh. Quản trị du lịch bằng dữ liệu không chỉ có nghĩa là thống kê bao nhiêu khách đến một địa phương. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng hiểu khách đến từ đâu, đi đâu, lưu trú bao lâu, chi tiêu vào những dịch vụ nào và đâu là điểm nghẽn khiến họ chưa kéo dài thời gian lưu trú.
Từ đó, cơ quan quản lý có thể điều chỉnh chính sách; doanh nghiệp có thể thiết kế sản phẩm sát nhu cầu hơn; còn điểm đến có thể chủ động quản lý sức chứa, giao thông, môi trường và chất lượng dịch vụ. Đây cũng là cơ sở để du lịch chuyển từ phương thức quản lý phản ứng sang quản trị chủ động.
Mục tiêu 2030 đặt du lịch vào vị trí mới trong nền kinh tế
Nghị quyết 26-NQ/TW đặt ra những mục tiêu rất cao cho năm 2030. Theo đó, du lịch được định hướng đóng góp trực tiếp 10-12% GDP, đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ khoảng 160 triệu lượt khách nội địa, với tổng thu từ khách du lịch đạt 80-90 tỷ USD.
Nghị quyết cũng đặt mục tiêu hình thành 3 cực tăng trưởng du lịch gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng; 10 trung tâm du lịch trọng điểm và 20 khu du lịch quốc gia. Đồng thời, hướng tới xây dựng 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh quốc tế.
Những mục tiêu này cho thấy du lịch được đặt trong một không gian phát triển rộng hơn rất nhiều so với hoạt động tham quan, nghỉ dưỡng truyền thống. Đó là một hệ sinh thái kinh tế có khả năng kéo theo hàng loạt ngành, lĩnh vực cùng tăng trưởng.
Mục tiêu 2045 và tham vọng nâng tầm thương hiệu Việt Nam. Tầm nhìn đến năm 2045 còn cao hơn: du lịch được đặt mục tiêu đóng góp trực tiếp 14-15% GDP, đón khoảng 70 triệu lượt khách quốc tế và đưa Việt Nam vào nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới.
Quan trọng hơn, mục tiêu không chỉ được đo bằng số lượng khách. Việt Nam hướng tới hình ảnh một điểm đến hấp dẫn, chất lượng cao, đẳng cấp và mang đậm bản sắc Việt Nam. Đó là sự chuyển dịch từ tư duy “thu hút khách” sang tư duy “xây dựng thương hiệu điểm đến”.
Từ nghị quyết đến thực tiễn: bài toán nằm ở năng lực thực hiện
Nghị quyết có thể tạo ra định hướng, nhưng sự thay đổi thực sự của ngành du lịch sẽ được quyết định ở khâu tổ chức thực hiện.
Thực tế cho thấy du lịch là lĩnh vực có tính liên ngành và liên vùng rất cao. Một điểm đến không thể phát triển tốt nếu giao thông thuận lợi nhưng chất lượng dịch vụ thấp; cảnh quan đẹp nhưng môi trường xuống cấp; sản phẩm hấp dẫn nhưng thiếu nhân lực; hoặc địa phương có tài nguyên nhưng thiếu doanh nghiệp đủ năng lực đầu tư và tổ chức thị trường.
Vì vậy, Nghị quyết 26-NQ/TW đặt trọng tâm vào hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng, xây dựng sản phẩm chất lượng cao, mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả xúc tiến, phát triển nhân lực, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao chất lượng điểm đến xanh, thông minh, an toàn, bền vững.
Trong kỳ nghỉ Quốc khánh 2/9/2026, ngành du lịch cả nước ước phục vụ khoảng 6,5 triệu lượt khách, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm 2025. Con số này tiếp tục cho thấy sức cầu du lịch trong nước đang ở quy mô lớn, đồng thời đặt ra yêu cầu ngày càng cao về năng lực phục vụ và quản trị điểm đến.
Một giai đoạn mới của du lịch Việt Nam
Từ gần 21,2 triệu khách quốc tế năm 2025 đến 15,9 triệu lượt chỉ trong 8 tháng năm 2026, du lịch Việt Nam đang có nền tảng tăng trưởng thuận lợi. Nhưng quy mô thị trường càng lớn thì yêu cầu về chất lượng và năng lực cạnh tranh càng cao.
Nghị quyết 26-NQ/TW vì thế không chỉ đặt ra những con số mới. Quan trọng hơn, văn kiện định hình một cách tiếp cận mới đối với du lịch: xem đây là ngành kinh tế tổng hợp, tổ chức theo hệ sinh thái, phát triển dựa trên văn hóa và bản sắc, đồng thời lấy công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh làm động lực.
Từ góc nhìn đó, thành công của du lịch Việt Nam trong giai đoạn tới sẽ không chỉ được tính bằng số người đặt chân đến Việt Nam. Thành công sẽ nằm ở khả năng tạo ra những hành trình có chất lượng hơn, những sản phẩm có giá trị hơn, những điểm đến đáng sống hơn và những lợi ích được lan tỏa rộng hơn tới doanh nghiệp, người dân và cộng đồng.
Đó cũng là thước đo quan trọng nhất để Nghị quyết 26-NQ/TW đi từ một định hướng chiến lược trở thành những thay đổi có thể cảm nhận được trong đời sống du lịch Việt Nam.
Tuệ An