AI đang đi rất nhanh, nhưng phía sau những câu trả lời chỉ xuất hiện trong vài giây trên màn hình là cả một hệ thống máy chủ, lưu trữ, mạng kết nối, cấp điện và làm mát phải hoạt động liên tục. Khi trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây mở rộng, nhu cầu điện cũng tăng theo. Với Việt Nam, câu chuyện đặt ra lúc này không chỉ là làm sao có thêm nguồn điện cho một nền kinh tế số đang tăng tốc, mà còn là làm sao sử dụng mỗi đơn vị năng lượng hiệu quả hơn, để tăng trưởng không đi cùng một khoản chi phí ngày càng lớn cho hệ thống điện.
Phía sau mỗi bước tiến của AI là một hạ tầng năng lượng lớn
Trung tâm dữ liệu xanh Viettel Hòa Lạc được đầu tư với công suất điện lên tới 30 MW, phục vụ nhu cầu xử lý dữ liệu lớn và AI; cơ sở này áp dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng (Nguồn: Viettel IDC).
Đằng sau một câu trả lời AI là cả một hệ thống máy móc
Người dùng chỉ nhìn thấy vài dòng chữ hiện ra sau khi đặt câu hỏi cho AI. Ở phía sau là một chuỗi hạ tầng gần như không được chú ý: máy chủ xử lý dữ liệu, hệ thống lưu trữ, mạng kết nối, thiết bị cấp điện và đặc biệt là hệ thống làm mát phải làm việc liên tục để duy trì trung tâm dữ liệu. Quy mô tính toán càng lớn, yêu cầu về năng lượng càng tăng.
Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), các trung tâm dữ liệu tiêu thụ khoảng 485 TWh điện trên toàn cầu trong năm 2025 và con số này được dự báo tăng gần gấp đôi, lên khoảng 950 TWh vào năm 2030. Các trung tâm dữ liệu tập trung vào AI được dự báo có mức tiêu thụ tăng nhanh hơn phần còn lại.
Đằng sau những con số ấy không chỉ là câu chuyện của ngành công nghệ. Một mô hình AI được sử dụng nhiều hơn đồng nghĩa với nhiều tác vụ tính toán hơn, nhiều dữ liệu được xử lý hơn và một lượng hạ tầng phải hoạt động lâu hơn. IEA cũng dự báo điện dành cho các trung tâm dữ liệu trên toàn cầu có thể tăng từ khoảng 460 TWh năm 2024 lên hơn 1.000 TWh vào năm 2030; năng lượng tái tạo được kỳ vọng đáp ứng gần một nửa mức tăng thêm này.
Điện vì thế trở thành một phần không thể tách khỏi cuộc đua AI. Nhưng khi nhu cầu tăng lên, câu hỏi cũng thay đổi: không chỉ có bao nhiêu điện, mà còn là mỗi đơn vị điện đang được sử dụng hiệu quả đến đâu.
Sức ép đã hiện hữu trên hệ thống điện Việt Nam
Việt Nam không cần chờ đến khi AI phủ rộng hơn trong đời sống mới phải đối mặt với bài toán này. Trong 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 171,54 tỷ kWh, tăng 9,85% so với cùng kỳ năm trước. Trong đợt nắng nóng cuối tháng 6, hệ thống điện quốc gia ghi nhận sản lượng điện ngày cao nhất 1.215,4 triệu kWh vào ngày 25/6, trong khi công suất cực đại đạt 57.537 MW vào ngày 24/6.
.jpg)
Nhu cầu điện tăng, áp lực lên hệ thống cũng lớn hơn
Nhân viên Điện lực miền Nam kiểm tra thiết bị tại trạm điện trong quá trình vận hành hệ thống. Nguồn ảnh: EVNSPC.
Những mức cao mới xuất hiện trong bối cảnh nhu cầu điện của sản xuất và đời sống cùng tăng. Trong khi hệ thống tiếp tục phải bảo đảm đủ nguồn và lưới, những phụ tải quy mô lớn như trung tâm dữ liệu cũng bắt đầu được tính đến.
Đầu tư thêm nguồn và lưới điện là yêu cầu không thể né tránh, nhưng đó không phải câu chuyện có thể giải quyết trong ngày một ngày hai. Một dự án nguồn điện cần thời gian xây dựng và đấu nối; một đường dây mới cũng kéo theo quy hoạch, vốn đầu tư và mặt bằng. Trong khi đó, ở phía sử dụng, vẫn còn một khoảng dư địa có thể tác động sớm hơn: thay thiết bị, tối ưu quy trình, điều chỉnh phụ tải hoặc giảm phần điện tiêu hao cho những hệ thống phụ trợ.
Đây là lý do hiệu quả năng lượng ngày càng được nhìn như một phần của bài toán cung ứng điện. Sử dụng điện hiệu quả hơn cũng đồng nghĩa với việc hệ thống phải đáp ứng ít hơn cho cùng một mức hoạt động.
Trung tâm dữ liệu bắt đầu được đặt vào bài toán “điện xanh”
Chính sách đã bắt đầu đi theo hướng này. Ngày 11/11/2025, Bộ Công Thương ban hành Quyết định 3304/QĐ-BCT phê duyệt Chương trình phát triển năng lượng xanh đáp ứng nhu cầu trung tâm dữ liệu tại Việt Nam. Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030 cập nhật đầy đủ nhu cầu điện của trung tâm dữ liệu vào quy hoạch điện lực, đồng thời thí điểm mô hình cung cấp điện xanh kết hợp năng lượng tái tạo với hệ thống lưu trữ năng lượng.
.jpg)
Trung tâm dữ liệu bước vào bài toán năng lượng xanh
Trung tâm Dữ liệu quốc gia số 1 là một trong những hạ tầng dữ liệu quy mô lớn, đặt ra yêu cầu cao về năng lực cung cấp điện và vận hành hiệu quả.
Một mục tiêu cụ thể là phấn đấu có ít nhất 11 trung tâm dữ liệu đầu tư xây dựng mới đạt chỉ số hiệu quả sử dụng năng lượng PUE dưới 1,4.
PUE là chỉ số cho thấy toàn bộ lượng điện một trung tâm dữ liệu sử dụng được phân bổ như thế nào giữa phần dành cho thiết bị công nghệ thông tin và phần dành cho các hệ thống phụ trợ như làm mát, cấp điện. Chỉ số này càng thấp thì phần điện dành cho các nhu cầu ngoài hoạt động tính toán càng được kiểm soát tốt hơn.
Với một cơ sở hoạt động liên tục, điều đó có ý nghĩa rất thực tế. Bởi vậy, khi yêu cầu về PUE, năng lượng tái tạo và lưu trữ được đưa vào chương trình phát triển trung tâm dữ liệu, câu chuyện AI bắt đầu trở thành một phần của câu chuyện hiệu quả năng lượng.

Không phải cứ tăng nhu cầu điện là do AI
AI đang tạo ra một loại phụ tải mới, nhưng không nên quy mọi mức tăng tiêu thụ điện cho công nghệ này. IEA cho biết các trung tâm dữ liệu chỉ chiếm khoảng một phần mười mức tăng nhu cầu điện toàn cầu đến năm 2030; những động lực lớn khác còn có công nghiệp, điều hòa không khí và giao thông điện.
Điểm đáng quan tâm nằm ở chỗ trung tâm dữ liệu thường tập trung tại một số địa điểm và đòi hỏi công suất ổn định. Với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, nơi nhu cầu điện tổng thể cũng tăng, việc xuất hiện thêm những phụ tải mới càng khiến bài toán sử dụng năng lượng hiệu quả trở nên đáng chú ý hơn.
Phát triển AI và tiết kiệm năng lượng vì thế không phải hai hướng đi đối lập. Một nền kinh tế số cần điện cho hạ tầng số, nhưng càng phát triển nhanh thì càng phải tính đến lượng năng lượng cần thiết để tạo ra một đơn vị sản phẩm, dịch vụ hay năng lực tính toán.
Tiết kiệm năng lượng không bắt đầu và kết thúc ở chiếc công tắc
Trong nhiều năm, nói đến tiết kiệm điện người ta thường nghĩ đến việc tắt đèn, tắt điều hòa hay rút các thiết bị khi không sử dụng. Những việc ấy vẫn cần thiết, nhưng dư địa lớn hơn nằm ở những nơi tiêu thụ năng lượng nhiều hơn: nhà máy, công trình, hệ thống lạnh, động cơ, dây chuyền sản xuất và các cơ sở vận hành liên tục.
Bộ Công Thương cho biết qua khảo sát, ngành công nghiệp Việt Nam có thể tiết kiệm khoảng 20–30% mức tiêu thụ năng lượng; với các công trình xây dựng, tiềm năng được ước tính khoảng 30–35%.

Công nghệ tiết kiệm năng lượng đang đi vào sản xuất
Các thiết bị điện hiệu suất cao, giải pháp quản lý năng lượng thông minh và công nghệ xanh được giới thiệu tại Vietnam ETE & Greenergy Expo 2026. Nguồn: EVN.
Đối với doanh nghiệp, một phần năng lượng tiết kiệm được có thể chuyển thành chi phí thấp hơn, hiệu suất cao hơn và năng lực cạnh tranh tốt hơn. Với hệ thống điện, giảm nhu cầu tiêu thụ cũng đồng nghĩa giảm phần công suất phải huy động để đáp ứng cùng một mức hoạt động. Bộ Công Thương từng chỉ ra các ngành công nghiệp chiếm hơn một nửa tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc và còn dư địa tiết kiệm lớn.
Điều đó cho thấy tiết kiệm năng lượng không nhất thiết phải đi cùng giảm sản xuất. Trong nhiều trường hợp, mục tiêu là sản xuất như cũ hoặc nhiều hơn nhưng tiêu thụ ít năng lượng hơn trên mỗi đơn vị sản phẩm.
Nguồn năng lượng cũng nằm trong cách vận hành
Một dây chuyền sản xuất có thể tiêu thụ ít hơn nhờ điều khiển chính xác, hệ thống lạnh được tối ưu, động cơ hiệu suất cao, nhiệt thải được thu hồi hoặc chiếu sáng được tự động hóa. Một tòa nhà có thể giảm tiêu thụ nhờ thiết kế, điều hòa và quản lý vận hành. Với trung tâm dữ liệu, bài toán nằm ở hiệu suất máy chủ, hệ thống làm mát, cấp điện và cách tổ chức tải tính toán.
AI cũng nằm trong câu chuyện ấy. Công nghệ này làm tăng nhu cầu điện của các trung tâm dữ liệu, nhưng mặt khác có thể hỗ trợ dự báo phụ tải, tối ưu vận hành và sử dụng năng lượng hiệu quả hơn. IEA đánh giá AI có tiềm năng hỗ trợ ngành năng lượng thông qua tối ưu hệ thống và nâng hiệu quả vận hành, bên cạnh tác động làm tăng nhu cầu điện của trung tâm dữ liệu.
Giá trị của AI trong bài toán năng lượng vì thế cần được nhìn bằng kết quả cụ thể: giảm được bao nhiêu điện, tối ưu được khâu nào và chi phí đầu tư có tương xứng với hiệu quả mang lại hay không.
Nhu cầu tăng, hiệu quả cũng phải tăng theo
Điện tiếp tục là một trong những điều kiện nền tảng của tăng trưởng kinh tế. Bộ Công Thương đặt mục tiêu đến năm 2030 bảo đảm cung cấp đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP bình quân 1–1,5% mỗi năm và hướng tới tỷ lệ tiết kiệm năng lượng khoảng 5–7% tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng theo kịch bản phát triển kinh tế - xã hội bình thường.
Hai mục tiêu ấy phải đi cùng nhau. Nguồn điện cần được mở rộng để đáp ứng tăng trưởng, nhưng lượng năng lượng cần thiết cho mỗi đơn vị tăng trưởng cũng phải giảm. Nếu chỉ đầu tư thêm nguồn mà không cải thiện hiệu suất sử dụng, áp lực lên hạ tầng sẽ ngày càng lớn; nếu chỉ tiết kiệm bằng cách cắt giảm tiêu dùng, sản xuất và đời sống có thể chịu tác động.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2025, tiếp tục nhấn mạnh việc giảm cường độ sử dụng năng lượng của nền kinh tế, hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn và thúc đẩy công nghệ hiệu quả năng lượng. Nghị định 30/2026/NĐ-CP ban hành tháng 1/2026 cũng giao thêm trách nhiệm cho địa phương trong xây dựng chương trình, kiểm tra cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm và theo dõi kết quả thực hiện.
Như vậy, tiết kiệm năng lượng đang dần rời khỏi phạm vi của một lời kêu gọi và trở thành một phần của quản lý kinh tế, quản lý doanh nghiệp và vận hành hệ thống điện.
Câu hỏi thực tế hơn là tiết kiệm ở đâu
Khi nhu cầu điện tăng, trung tâm dữ liệu phát triển và AI tiếp tục mở rộng, câu hỏi “có nên tiết kiệm điện?” đã không còn đủ sức bao quát vấn đề. Điều cần biết cụ thể hơn là tiết kiệm ở đâu, bằng công nghệ nào, chi phí đầu tư ban đầu bao nhiêu, thời gian hoàn vốn thế nào và lượng năng lượng tiết kiệm được có thể giúp hệ thống giảm áp lực đến đâu.
Với doanh nghiệp, câu hỏi còn là liệu đầu tư vào hiệu quả năng lượng có trở thành một lợi thế cạnh tranh hay chỉ là một khoản chi phí phải bỏ ra để đáp ứng yêu cầu quản lý. Với cơ quan quản lý, câu chuyện nằm ở việc thiết kế chính sách sao cho doanh nghiệp có động lực đầu tư và có thể đo được kết quả.
Đó là bài toán mà Việt Nam sẽ phải giải khi bước sâu hơn vào nền kinh tế số. Trung tâm dữ liệu cần nguồn điện ổn định, nhà máy cần điện để sản xuất, thành phố thông minh cần thêm thiết bị và hạ tầng; nhưng một hệ thống năng lượng đủ mạnh không chỉ là hệ thống sản xuất thật nhiều điện, mà còn phải là hệ thống sử dụng điện ngày càng hiệu quả hơn.
Từ “cần thêm điện” đến “cần dùng điện tốt hơn”
Năm 2026, Việt Nam đã chứng kiến những mức cao mới về phụ tải điện, trong khi các yêu cầu về năng lượng xanh và hiệu quả sử dụng điện đối với trung tâm dữ liệu cũng bắt đầu rõ hơn. Hai diễn biến này cùng chỉ về một hướng: nhu cầu năng lượng sẽ tiếp tục tăng khi nền kinh tế phát triển, nhưng dư địa để sử dụng năng lượng tốt hơn cũng cần được khai thác mạnh hơn.
Tiết kiệm năng lượng vì thế không chỉ là dùng ít đi. Đó là dùng đúng công nghệ, đúng thời điểm, đúng nhu cầu và tạo ra nhiều giá trị hơn từ lượng năng lượng đã sử dụng. Khi nguyên tắc ấy được đưa vào nhà máy, tòa nhà, trung tâm dữ liệu và từng quyết định đầu tư, tiết kiệm năng lượng mới thực sự trở thành một phần của năng lực cạnh tranh.
Nhưng câu hỏi lớn hơn vẫn còn ở phía trước: trong những nơi tiêu thụ nhiều năng lượng nhất, ai đang thực sự thay đổi cách làm, họ đã tiết kiệm được bao nhiêu và điều gì khiến những mô hình ấy có thể nhân rộng? Đó là câu chuyện của Kỳ 2.
KỲ 2: TỪ “TẮT ĐIỆN” ĐẾN “ĐỔI CÁCH LÀM”
Minh Sáng